2. Nền kinh tế xã hội nông nghiệp truyền thống là nền kinh tế trọng nông và tự cung, tự cấp
Đây là một trong những đặc trưng nổi bật nhất của nền kinh tế xã hội nông nghiệp truyền thống. Hầu như ở các làng đều có các hoạt động sản xuất tương tự giống nhau, bao gồm các hoạt động nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ và khai thác sản vật tự nhiên để tự sản xuất những sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng cơ bản nhất của dân cư trong làng.
Trong cấu trúc kinh tế ấy, nông nghiệp là hoạt động căn bản nhất và luôn được xem là “nghề gốc” của đa số các hộ dân cư. Hoạt động nông nghiệp bao trùm và chi phối đến tất cả các hoạt động kinh tế khác. Trong đó, sản xuất lương thực, mà đặc biệt là sản xuất lúa gạo đã phát triển từ rất sớm và trở thành ngành sản xuất chính, là nền tảng cho các hoạt động kinh tế khác. Điều này được quy định trước hết bởi các điều kiện tự nhiên của sản xuất và tập quán, nhu cầu sử dụng lúa gạo làm lương thực đã có từ lâu đời của dân cư, cả ở đồng bằng lẫn miền núi. Do đó, sản xuất lúa gạo và lương thực đã trở thành phương thức sản xuất và sinh sống vừa có ý nghĩa sinh tồn vừa có ý nghĩa truyền thống của hầu hết các làng xã trong suốt chiều dài lịch sử. Bên cạnh sản xuất lúa gạo, dân cư các làng còn trồng các loại cây hoa màu, cây ăn quả và rau đậu thực phẩm, đồng thời với chăn nuôi gia súc, gia cầm, thả cá, đánh bắt thủy hải sản, khai thác sản vật tự nhiên… Song, toàn bộ các hoạt động kinh tế này chỉ là các hoạt động phụ để tận dụng lao động nông nhàn, bổ sung sản phẩm cho nhu cầu lương thực và phục vụ nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của các hộ dân cư.
Khi dân số các làng ngày càng tăng lên, đất ở và đất đai canh tác trở nên chật hẹp, lương thực và hoa lợi thu được ngày càng không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng tại chỗ của dân cư, thì một mặt, đất đai và sản xuất lương thực càng được coi trọng hơn, sử dụng triệt để hơn, và mặt khác, quá trình khai hoang mở rộng lãnh thổ và đất đai canh tác của làng (như đã nói trên) cũng như quá trình di dân, khai hoang lập ấp mới lại tiếp tục diễn ra. Song, cấu trúc kinh tế cũng như phương thức sản xuất và sinh sống của dân cư thì hầu như không có những thay đổi, vẫn chỉ là sự tái lập hay nối tiếp truyền thống nông nghiệp và tập quán sinh sống bằng nghề trồng lúa của những làng quê cũ. Cho đến thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX thì ở Ðồng bằng Bắc Bộ cũng như hầu hết các vùng châu thổ khác, cây lúa đã trở thành độc canh, “được trồng hầu như trên toàn bộ các cánh đồng”, việc canh tác và thâm canh lúa được tiến hành ráo riết nhưng “cũng chỉ gần đủ cho nhu cầu về gạo của dân chúng ” (P. Gourou, 1936). Và ở nhiều nơi, công cuộc khai hoang lấn biển, mở mang nông nghiệp vẫn luôn được đẩy mạnh. Còn ở những vùng miền núi, nơi có điều kiện sản xuất lương thực khó khăn hơn, thì cho đến những thế kỷ gần đây tình trạng du canh du cư vẫn còn rất phổ biến.
Phương thức sản xuất và sinh sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm cốt lõi sinh tồn đã trở thành tập quán sinh sống, thành tư tưởng, ý thức và tình cảm ngấm sâu trong tiềm thức của người dân nông thôn. Ở đây, nông nghiệp vừa là tất yếu sinh tồn, nhưng cũng là ước mơ, khát vọng về sự giầu có, sung túc và thịnh vượng của dân cư. Đất đai, ruộng vườn, lúa gạo hay trâu bò luôn được coi là thước đo về sự giàu có, sung túc. Và từ đó, tư tưởng “dĩ nông vi bản” đã trở thành ý thức hệ phổ biến, hầu như bất di bất dịch, kể cả đối với tầng lớp quan lại phong kiến cũng như đối với người nông dân và các tầng lớp dân cư khác.
Bên cạnh sản xuất nông nghiệp là cơ bản, thì trong nền kinh tế xã hội truyền thống, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng xuất hiện từ rất sớm, gắn liền với hoạt động nông nghiệp và hỗ trợ, bổ sung cho nông nghiệp. Tuy vậy, trong suốt hàng nghìn năm dưới thời Bắc thuộc, tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp hầu như không có bước tiến, thậm chí bị kìm hãm, co cụm lại trong các làng xã, ẩn chìm trong các hộ gia đình và hòa lẫn với các hoạt động nông nghiệp. Sự phục hồi và chấn hưng phát triển các nghề này chỉ thực sự diễn ra từ thế kỷ thứ XI trở đi, khi chế độ phong kiến tập quyền nhà nước đã hình thành và ngày càng củng cố. Từ thế kỷ XI, XII ở Ðồng bằng Bắc bộ đã xuất hiện nhiều làng nghề truyền thống, như các làng chuyên về làm giấy, dệt vải; đúc đồng; làm nghề bạc, gốm, đan lát,… Cho đến thể kỷ XV, và nhất là ở thế kỷ XVIII, XIX, thì các ngành nghề thủ công nghiệp ở nông thôn đã phát triển khá mạnh mẽ. Các làng nghề, phường nghề được mở ra ở khắp mọi nơi và hàng hóa, sản phẩm cũng ngày càng phong phú, đa dạng hơn. Chỉ riêng ở Ðồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XIX đã có tới hơn 40 làng chuyên dệt vải, lụa; hơn 20 làng làm nghề gốm sứ, hàng chục làng chuyên làm nghề thêu, nhuộm, nghề mộc, rèn, đúc đồng, đan lát mây tre,… Nhiều loại sản phẩm thủ công nghiệp đã nổi tiếng, và không ít mặt hàng đạt tới trình độ kỹ nghệ cao, trở thành những sản phẩm có ý nghĩa văn hóa, tinh thần, biểu trưng cho tài nghệ và truyền thống của các làng.
Việc giao lưu, trao đổi hàng hóa và hoạt động thương nghiệp cũng ngày càng mở rộng. Ở Ðồng bằng Bắc Bộ trước đây, cứ khoảng vài ba làng lại có một chợ tổng hay chợ huyện là nơi buôn bán, trao đổi hàng hóa giữa các làng trong vùng. Ở những làng xã có các nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển thì việc buôn bán, trao đổi hàng hóa cũng thường xuyên tấp nập, nhộn nhịp hơn. Đến thế kỷ XVIII, XIX đã xuất hiện không ít những làng buôn chuyên nghiệp, mà “đa số dân làng lấy việc buôn bán làm nghiệp chính và nguồn sống chính của họ là do kinh tế thương nghiệp mang lại” (Phan Đại Doãn,1989).
Sự phát triển các nghề tiểu thủ công nghiêp và thương nghiệp đã tác động không ít đến cấu trúc của nền kinh tế xã hội làng xã và tư tưởng, tập quán sản xuất của dân cư nông thôn. Vị trí của các nghề phi nông nghiệp có phần được coi trọng, thậm chí ngày càng được đề cao. Tuy vậy, ngay cả ở những làng nghề, phường nghề hay các làng buôn, phường buôn phát triển nhất thì nông nghiệp vẫn tồn tại như là “cơ sở quan trọng của cuộc sống dân làng” và phương thức ứng xử nông nghiệp hầu như vẫn rất nặng nề, chi phối mọi nếp nghĩ và hành động của dân cư. Đa số các làng nghề, phường nghề và thợ thủ công vẫn giữ lại nghề nông và ruộng đất của họ. Nhiều người làm nghề thủ công hay chuyên nghiệp sau một thời gian tích lũy vốn liếng lại trở về làng mua ruộng đất, củng cố thêm “nghề gốc” nông nghiệp vốn có của họ. Còn đa số những người làm nghề thủ công hay buôn bán nhỏ lẻ vẫn là những người thường xuyên làm nông nghiệp và thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp.
Tất cả những điều đó càng củng cố thêm tư tưởng “dĩ nông vi bản” và tính chất tự cung, tự cấp của nền kinh tế xã hội nông thôn, cản trở tiến trình phân công lao động xã hội và phát triển kinh tế hàng hóa ở khu vực này.












